SM e-Library Vài ghi chép về các vấn đề Nhân học - Văn hóa

  1. lã thanh hà

    lã thanh hà Đại học http://mp3.zing.vn/bai-hat/Hoa-Vang-May-Do-Khanh-Ly/ZWZFBE8W.html

    LỊCH SỬ CỦA KHÁI NIỆM - VỀ QUÁ TRÌNH BẢN ĐỊA HÓA CÁC KHÁI NIỆM “NATION”, “STATE”, “ETHNICITY” Ở VIỆT NAM VÀ TRONG KHU VỰC

    Trước tiên phải nói rằng, những khái niệm này có nội hàm hoàn toàn khác nhau ở những quốc gia khác nhau (đối với mỗi người đã khác nhau rồi chứ đừng nói đến quốc gia). Nghĩa là, chủ nghĩa dân tộc mà ta nói đến chưa chắc đã là chủ nghĩa dân tộc mà Mỹ nói đến. Kỳ thực, mọi khái niệm đều mơ hồ, nên nguyên tắc căn bản trước khi tranh luận bất cứ cái gì, đó là hãy làm rõ nội hàm khái niệm mà anh đang nói đến trước tiên. (cái này không liên quan tí, cơ mà cũng cần thiết =)) )

    VỀ KHÁI NIỆM NATION

    Theo một cái ông tên là Benedict Anderson (trong cuốn Imagined Communities – Những cộng đồng tưởng tượng) thì 1 cái Nation nó sẽ có những điểm sau:

    - Biên giới lịch sử

    - Ký ức và huyền thoại

    - Nền văn hóa

    - Nền tảng kinh tế

    - Quy định về quyền và nghĩa vụ cho tất cả mọi người (kiểu như luật pháp)

    Và trung tâm của 1 cái “nation” là “người dân” – cộng đồng người là trung tâm.

    State (kiểu như Chính phủ) là thiết chế chính trị/đơn vị pháp lý gắn với cộng đồng người chứ không phải cộng đồng người.

    Khái niệm “Nation” được giới thiệu vào nước Nhật vào thời kỳ giới thiệu các lý thuyết xã hội từ phương Tây. Trước đó, trong văn hóa Nhật Bản không hề có khái niệm “người dân” với ý thức về “quyền và nghĩa vụ”. Trước đó chỉ có khái niệm “thần dân”, chứ không có khái niệm “công dân”.

    Khái niệm “nation” được dịch ở Trung Quốc bởi Lương Khải Siêu lần đầu vào năm 1901. Nation = hợp đồng chủng, dị dị chủng (tập hợp những người đồng chủng và loại trừ những người nằm ngoài đó). Ông này gán cho Nation một nội hàm đạo đức đậm tư duy Nho giáo: những người cùng chung một đặc điểm tâm lý và đạo đức giống nhau.

    Ở Hàn Quốc (1905), Nation = những người cùng sở hữu chung một dòng máu thuần chủng (Hàn Quốc). Và thậm chí tư duy này đến bây giờ vẫn còn tồn tại rất rõ rệt trong tâm lý của người Hàn.

    Ở Việt Nam, khái niệm “dân” (phá bỏ mô hình quan hệ dân cũ, đưa dân vào mà không phải là “thần dân”) thể hiện rõ nhất trong “Hải ngoại huyết châu” của Phan Bội Châu: “Dân là dân nước, nước là nước dân” (nghĩa là dân là dân của một nước, nước là nước CỦA NHÂN DÂN).

    Học thuyết giống nòi liên tục được cổ vũ mạnh mẽ từ năm 1887 -1905 (và cho đến tận bây giờ). Nation là tập hợp những người chia sẻ cùng một nòi giống với nhau. Nòi giống là khái niệm căn bản nhất để hình thành khái niệm Nation. Và như vậy thì phải làm gì? à Phải tìm một quốc tổ. Thế là các sử liệu về Hùng Vương và 18 đời vua Hùng bắt đầu trở nên nhiều hơn.

    Đó là quá trình bản địa hóa khái niệm “Nation” ở một số nước, trong đó có chúng ta.

    VỀ KHÁI NIỆM ETHNICITY

    Trước khi có khái niệm này, chúng ta vẫn dùng cụm “dân tộc Việt Nam” như thường mà không băn khoăn gì. Cho đến năm 1945, khi những nhà nghiên cứu Pháp đến Việt Nam, họ đi thực địa và phát hiện ra, rằng ở đây có những nhóm người khác nhau, văn hóa khác nhau, quần áo khác nhau, tiếng nói khác nhau, dường như họ thuộc về những “nation” khác nhau. Nhưng trên thực tế, họ vẫn thuộc về lãnh thổ Việt Nam. Trong các ghi chép của họ có cụm từ “ethnic group” à mà sau đó chúng ta đã phải dịch ra là “dân tộc”.

    Có thể nói, trước năm 1945, mối quan tâm của xã hội đến các nhóm dân tộc thiểu số này là không quá lớn. Phải đến tận sau năm 1954 mới hình thành nên bộ môn “Dân tộc 2 học”, để phân biệt với từ “dân tộc” trong “dân tộc Việt Nam”. Cho đến nay, hai cụm từ này vẫn được chúng ta sử dụng lẫn lộn.

    Có phải thực sự Việt Nam có 54 dân tộc, hay Trung Quốc có 56 dân tộc hay không? Các dân tộc không được hình thành tự nhiên mà được hình thành trên bàn giấy. Bởi vì bất cứ khái quát nào về một nhóm người nào đó cũng sẽ nhanh chóng tìm ra được ngoại lệ, chưa kể có một số ông chỉ khái quát dựa trên quần áo giống nhau thì cùng gọi là một dân tộc. Thực tế là có những tộc người với số lượng người quá ít nên không đủ để được xét là một dân tộc (trên bàn giấy nhé, chứ tồn tại của họ là không thể phủ nhận). Cứ nhìn dân tộc Thái là thấy đấy, Thái rồi mà lại còn Thái Đen – Thái Trắng nữa. J)

    Anh PA đã từng có dự định làm một đề tài nghiên cứu về người H’mong nhưng sau khi bập vào tìm hiều một thời gian thì quyết định bỏ cuộc, vì có quá nhiều “chi, nhánh” (tạm dùng từ này) của người H’mong mà 1 bạn người H’mong trong buổi hôm đó cũng chia sẻ là anh có nghiên cứu 30 năm thì may ra mới xong được. Và như vậy, thì căn cứ nào, cơ sở nào để chúng ta phân ra 54 dân tộc đó, rằng cái tộc người đó thì có đặc điểm như này, như này, như này…, chúng ta đã hiểu được lớp nền văn hóa của họ chưa? Và mất bao lâu thì hiểu? Cái này thì các bạn trẻ tự trả lời nha!

    VỀ QUỐC DÂN ĐƠN NHẤT (Homogeneous nation)

    Về một quốc dân đơn nhất, tiêu biểu nhất cho tư duy này là người Hàn (Đại Hàn Dân Quốc), người Đức. Thậm chí, theo anh PA, khi hỏi người Nhật là nước chúng mày có bao nhiêu tộc người, họ sẽ hớn hở trả lời là nhiều lắm: người Nhật này, người Hàn Quốc này, này Trung Quốc này… @@ Đây là một xu hướng, gọi là “biến tên dân tộc thành tên quốc gia, một quá trình mà ở đó những cộng đồng lớn tận diệt những cộng đồng nhỏ và hòa cộng đồng nhỏ vào cộng động đồng lớn hơn.

    Ở Việt Nam, có thể thấy điều này đang diễn ra với sự phát triển của truyền thông đại chúng, phổ cập ngôn ngữ và xóa bỏ rào cản ngôn ngữ, xây dựng những bảo tàng văn hóa (mà ở đó chỉ có trí tưởng tượng của chúng ta về tộc người chứ không có bản thân văn hóa tộc người), thực hiện các thống kê dân số và sự phát triển của tầng lớp trung lưu. Về mặt khoa học, hiện tại từ “dân tộc Việt Nam” có thể sai, nhưng chỉ sau 200 năm nữa thôi (hoặc còn ngắn hơn thế nhiều lần), nó trở thành đúng. Đó là quá trình hình thành một Quốc dân đơn nhất.

    Sự thật là, càng cố gắng bảo tồn bao nhiêu thì chúng ta càng chỉ bảo tồn được “hình ảnh” của hiện vật bấy nhiêu. Càng bảo vệ thì càng đồng hóa, bởi vì chúng ta đang đem hình dung của chúng ta về dân tộc thiểu số và định dướng đồng bào dân tộc thiểu số theo hướng đó, bảo tồn theo hướng đó.

    BÊN LỀ

    Có người có thể nói rằng: “Không, tôi đang thấy một diễn tiến ngược lại với quá trình “đồng nhất”. Chưa bao giờ như bây giờ, tôi thấy người ta nói đến nhiều về bản sắc, nhiều tiếng nói để bảo vệ bản sắc bản địa như hiện tại”. Ồ, đấy chính là vấn đề. “Identity” – căn cước. “Chúng ta chỉ có nhu cầu của căn cước khi chịu áp lực của sự diệt vọng.” – Stuart Hall.

    Hãy nhìn nước Mỹ này, họ hay nói về “nhân loại”, “Human right”, “toàn cầu”. Còn những nước nhỏ thì sao: “bản sắc”, “hòa nhập mà không hòa tan”. Vì sao vậy? Vì luật chơi không phải do những nước nhỏ, những cộng đồng nhỏ đặt ra. Khi cộng đồng đủ mạnh và thống trị thì identity không còn cần thiết nữa, hay đúng hơn họ còn chẳng buồn lo về điều đó nữa.

    Trở lại với câu: "người ta sẽ nói nhiều về những thứ sắp hay đang mất đi". Có lẽ, đó chính là lý do vì sao bây giờ chúng ta lại nghe nhiều về “identity” đến thế.
     
    • Like Like x 4