Emil Cioran (1911–1995) là triết gia, nhà văn châm ngôn nổi tiếng với chủ nghĩa bi quan sâu sắc, sinh ra tại Romania và phần lớn cuộc đời sống ẩn dật tại Pháp. Cuộc đời ông gắn liền với các suy tư về sự đau khổ, chứng mất ngủ kéo dài và lối viết văn bằng cả tiếng Romania lẫn tiếng Pháp. Đặc trưng hay viết các short fragments (nhận định ngắn), mạnh tính irony (nghịch lý, trớ trêu). Ví dụ như câu: “Only optimists commit suicide, optimists who no longer succeed at being optimists. The others, having no reason to live, why would they have any to die?”
(tạm dịch Chỉ những người lạc quan mới tự sát, bởi người lạc quan không còn duy trì được sự lạc quan của mình nữa. Còn những người khác, khi chẳng có lý do gì để sống, thì cớ sao lại cần đến lý do để chết?”)
Các nhận định dưới đây vừa dịch ngẫu nhiên lại còn dịch vội, chưa biên tập gì nhiều, xin hãy nghi ngờ bản dịch!
TRÍ TUỆ VÀ SỰ THÁNH THIỆN
Trong số ai chịu đau khổ vĩ đại, các vị thánh là những kẻ giỏi nhất trong việc trục lợi từ bệnh tật của mình. Mang bản chất ngông cuồng và phi khống, họ khai thác sự mất cân bằng của chính mình bằng cả bạo liệt lẫn nét tinh khôn. Đấng Cứu Thế, hình mẫu của họ, là một ví dụ về tham vọng và táo tợn, một kẻ chinh phục vô song: sức mạnh luồn lách của Ngài, khả năng tự đồng nhất mình với những khuyết tật và sự thiếu hụt của tâm hồn đã cho phép Ngài thiết lập một bản xứ vượt xa tầm với của bất kỳ lưỡi gươm đơn thuần nào. Rực cháy có phương pháp: chính năng lực này đã được bắt chước bởi những kẻ lấy Ngài làm lý tưởng.
Nhưng các nhà hiền triết - kẻ khinh bỉ kịch nghệ và phô trương - lại thấy mình xa cách vị thánh hệt như xa cách một kẻ ăn chơi đàng điếm; ông ta chẳng hề biết đến tính kịch ngợm và tự rèn cho mình sự cân bằng đến từ niềm vỡ mộng và lòng thờ ơ. Pascal là một vị thánh thiếu đi khí chất: bệnh tật khiến ông trở thành một kẻ nhỉnh hơn nhà hiền triết một chút, nhưng lại kém vị thánh một phân. Điều đó giải thích cho những dao động nơi ông và cái bóng hoài nghi luôn bám theo những cuồng nhiệt của ông. Một trí tuệ hoa mỹ bế tắc trong sự Vô phương cứu chữa. . .
Dưới mắt nhà hiền triết, chẳng ai bất thuần bằng vị thánh; dưới mắt vị thánh, chẳng ai rỗng tuếch bằng nhà hiền triết. Đó là toàn bộ sự khác biệt giữa kẻ đã thấu hiểu và kẻ còn khát khao.
NHỮNG NẤC THANG CỦA LÒNG KIÊU HÃNH
Lao vào tính điên rồ của các vị thánh, có lúc bạn quên đi những giới hạn, những xiềng xích, những gánh nặng của mình, và bạn thốt lên: "Ta là linh hồn của thế giới; ta tô điểm vũ trụ bằng những ngọn lửa của ta. Từ nay sẽ không còn đêm tối: ta đã sửa soạn bữa tiệc vĩnh cửu của các vì sao; mặt trời là thừa thãi: mọi thứ đều tỏa sáng, và những hòn đá còn nhẹ hơn cánh thiên thần."
Thế rồi, giữa cơn cuồng loạn và sự chiêm nghiệm: "Nếu ta không phải là Linh hồn này, ít nhất ta cũng khao khát trở thành nó. Chẳng phải ta đã đặt tên cho muôn loài sao? Mọi vật thể đều xướng tên ta, từ đống phân rác cho đến những vòm trời: chẳng phải ta chính là sự im lặng và tiếng náo nhiệt của muôn vật sao?"
. . . và, ở nấc thang thấp nhất, khi cơn say đã qua: "Ta là nấm mồ của những tia sáng, sự giễu cợt của loài sâu bọ, một xác chết quấy rền thiên đường, một trò nhại nhố của Cõi Báo Ứng, một Kẻ-Đã-Từng-Là-Hư-Vô thậm chí không có cả đặc quyền được mục nát. Ta đã đến độ hoàn hảo nào của vực thẳm, mà chẳng còn không gian nào cho ta gieo mình xuống nữa?"
THIÊN ĐƯỜNG VÀ VỆ SINH
Lòng thánh thiện: sản phẩm tối cao của bệnh tật; khi chúng ta khỏe mạnh, nó có vẻ quái đản và vô nghĩa. Nhưng hãy để thứ chủ nghĩa Hamlet mà chúng ta gọi là Bệnh Thần Kinh đòi hỏi quyền lợi của nó, và thiên đường sẽ hình thành, trở thành bối cảnh của sự lo âu. Chúng ta tự bảo vệ mình khỏi lòng thánh thiện bằng cách chăm sóc bản thân: nó bắt nguồn từ nỗi bẩn thỉu đặc biệt của thể xác và tâm hồn.
Nếu Cơ Đốc giáo đề xuất sự vệ sinh thay vì Điều Không Thể Kiểm Chứng, chúng ta sẽ tìm kiếm vô ích một vị thánh duy nhất trong toàn bộ lịch sử của nó; nhưng nó đã bênh vực những vết thương và sự dơ bẩn của chúng ta, một sự dơ bẩn phát quang, mang tính bản chất. . . .
Sức khỏe: vũ khí quyết định chống lại tôn giáo. Hãy chế ra phương thuốc vạn năng: thiên đường sẽ tan biến và không bao giờ trở lại. Chẳng ích gì khi quyến rũ con người bằng các lý tưởng khác: chúng sẽ yếu hơn bệnh tật. Thiên Chúa là gỉ sét của chúng ta, là sự suy tàn dần dần của chất sống trong ta: khi Ngài xâm nhập vào chúng ta, chúng ta nghĩ mình được nâng cao, nhưng chúng ta lại hạ xuống ngày càng thấp; khi đạt đến kết cục, Ngài đội vương miện cho sự sụp đổ của chúng ta, và thế là chúng ta được "cứu rỗi" mãi mãi. Mê tín tàn khốc, tế bào ung thư mang hào quang đã ăn mòn trái đất qua bao thế kỷ.
Tôi ghét tất cả các vị thần; tôi không đủ khỏe mạnh để khinh bỉ họ. Đó là sự hạ mình lớn lao của Kẻ Thờ Ơ.
VỀ MỘT SỐ DẠNG CÔ ĐỘC
Có những trái tim mà Thiên Chúa không thể nhìn vào mà không mất đi nét thơ ngây của Ngài. Nỗi buồn bắt đầu sau Buổi Sáng Tạo: nếu Đấng Tạo Hóa mạo hiểm đi xa hơn vào thế giới, Ngài đã làm tổn hại đến sự cân bằng của Chính Mình. Kẻ tin rằng mình vẫn có thể chết chưa từng biết đến một số dạng cô độc, cũng như tính tất yếu của bất tử được nhận thức trong một số cơn đau đớn.
Chuyên môn hiện đại của chúng ta là đã khu biệt địa ngục vào bên trong chính mình: nếu chúng ta giữ lại diện mạo cũ của nó, nỗi sợ hãi được duy trì bởi hai ngàn năm đe dọa đã hóa đá chúng ta. Không còn những nỗi kinh hoàng nào mà không được chuyển dịch một cách chủ quan: tâm lý học là sự cứu rỗi, là ngụy kế của chúng ta.
Ngày xưa, thế giới này được cho là nổi lên từ một cái ngáp của ác quỷ; ngày nay nó chỉ là một sai lầm của các giác quan, một định kiến của trí óc, một thói xấu của cảm xúc. Chúng ta biết mình có thể làm gì với thị kiến về Ngày Phán Xét của Thánh Hildegarde hay địa ngục của Thánh Teresa; cái cao cả - cái Cao Cả của kinh hoàng cũng như thánh thiện đều được phân loại bởi bất kỳ luận thuyết nào về bệnh tâm thần. Và nếu những căn bệnh của chúng ta đã được ta hiểu rõ, chúng ta không vì thế mà miễn trừ khỏi các thị kiến, nhưng chúng ta không còn tin vào chúng nữa.
Sành sỏi trong hóa học của những bí ẩn, chúng ta giải thích mọi thứ, ngay cả những giọt nước mắt của mình. Tuy nhiên, điều này vẫn không thể giải thích được: nếu linh hồn có giá trị ít ỏi đến thế, thì cảm giác cô độc của chúng ta từ đâu đến? Nó chiếm giữ khoảng không gian nào? Và làm thế nào nó đột ngột thay thế cho thực tại khổng lồ đã tan biến?
DAO ĐỘNG
Vô ích khi bạn tìm kiếm hình mẫu của mình giữa những con người; từ những kẻ đã đi xa hơn bạn, bạn chỉ vay mượn khía cạnh tổn hại và thỏa hiệp: từ nhà hiền triết, sự lười biếng; từ vị thánh, tính bất nhất; từ kẻ mộ điệu, tính hằn học; từ nhà thơ, buông thả và từ tất cả, từ bất hòa với chính mình, từ mập mờ trong những điều thường nhật và lòng thù hận đối với những gì sống chỉ đơn thuần để sống.
Khi thuần khiết, bạn tiếc nuối cái thứ dơ bẩn; khi dơ bẩn, bạn tiếc nuối tính đàng hoàng; khi mơ hồ, bạn tiếc nuối sự sung sức. Bạn sẽ không bao giờ là gì khác ngoài những gì bạn không phải, và nỗi tuyệt vọng khi là những gì bạn đang là. Bằng những tương phản nào mà chất sống của bạn đã được thấm đượm, và thiên tài pha trộn nào đã chủ trì đày ải của bạn vào thế giới?
Quyết tâm tự làm giảm giá trị bản thân đã khiến bạn kết hôn với cơn thèm khát sụp đổ ở những người khác: ở nhà nhạc sĩ này, căn bệnh này; ở nhà tiên tri này, khuyết tật này; và ở phụ nữ - các nhà thơ, những kẻ dâm dật, hay các vị thánh - u sầu, tinh thần đồi quỵ, hủ hóa của thể xác, máu mủ và những giấc mơ của họ. Cay đắng, nguyên tắc cho quyết tâm của bạn, phương thức hành động và thấu hiểu của bạn, là điểm cố định duy nhất trong mọi dao động của bạn giữa nỗi ghê tởm thế giới và lòng tự hại chính mình.
MỐI ĐE DỌA CỦA THÁNH THIỆN
Chỉ có thể sống ở bên này hoặc bên kia của cuộc đời, con người là mồi ngon cho hai cám dỗ: đần độn và thánh thiện - dưới-con-người và siêu-nhân, nhưng không bao giờ là chính mình. Trong khi không đau khổ vì sợ trở nên ít hơn những gì mình đang có, thì triển vọng trở nên nhiều hơn lại làm hắn khiếp sợ. Đã dấn thân vào đau khổ, hắn sợ hãi kết cục của nó: làm sao hắn có thể đồng ý chìm ngập trong vực thẳm hoàn hảo vốn là thánh thiện, để rồi mất đi khả năng tự chủ của chính mình?
Trượt về phía đần độn hay hướng về thánh thiện đều là tự để mình bị dụ dỗ ra bên ngoài bản thể. Tuy nhiên, chúng ta không hoảng sợ trước trạng thái mất ý thức do đần độn mang lại, trong khi triển vọng hoàn hảo lại gắn liền với cảm giác chóng mặt. Chính bằng những bất toàn mà chúng ta vượt trội hơn Thiên Chúa; và chính nỗi sợ hãi mất đi những bất toàn ấy khiến chúng ta chạy trốn khỏi thánh thiện!
Nỗi kinh hoàng về một tương lai mà ở đó ta không còn tuyệt vọng... nơi ở tận cùng các thảm họa của ta, một kẻ khác - không hề được mong đợi - sẽ xuất hiện: nỗi kinh hoàng từ nguồn cứu rỗi, nỗi kinh hoàng khi trở thành các vị thánh...
Kẻ sùng bái những bất toàn của mình bị hoảng sợ bởi đà biến hình mà những đau khổ có thể dọn đường cho hắn. Tan biến trong một ánh sáng siêu việt ư? Thà rằng tiến về cái tuyệt đối của bóng tối, hướng về cảm giác thoải mái của niềm ngu muội.
THẦN HỌC
Khi tôi vui vẻ: Thiên Chúa tốt lành; khi tôi hờn dỗi: Thiên Chúa độc ác; khi tôi thờ ơ: Ngài trung tính. Các trạng thái tâm lý của tôi gán cho Ngài những thuộc tính tương ứng: khi tôi yêu tri thức, Ngài toàn trí; khi tôi thờ phụng quyền lực, Ngài toàn năng. Khi mọi thứ đối với tôi có vẻ tồn tại, Ngài tồn tại; khi chúng có vẻ là ảo tưởng, Ngài bốc hơi. Một ngàn lập luận nâng đỡ Ngài, và một ngàn lập luận tiêu diệt Ngài; nếu niềm hăng hái của tôi làm Ngài sống động, thì thái độ hờn dỗi của tôi làm Ngài ngột ngạt.
Ta không thể tạo ra một hình ảnh nào biến đổi hơn: ta sợ Ngài như một quái vật và đè nát Ngài như một con sâu; ta thần tượng Ngài: Ngài là Thể Tồn Tại; ta đẩy lùi Ngài: Ngài là Hư Không. Dù Lời Cầu Nguyện có thay thế Trọng Lực, nó cũng khó có thể đảm bảo trạng thái tồn tại vĩnh cửu của Ngài: Ngài vẫn phụ thuộc vào những khoảnh khắc của chúng ta. Số phận đã quyết định rằng Ngài chỉ bất biến trong mắt những kẻ ngây thơ hoặc chậm phát triển. Thái độ soi xét bóc tách Ngài: một nguyên nhân vô dụng, một cái tuyệt đối vô nghĩa, kẻ bảo hộ những kẻ đần độn, trò tiêu xài của những kẻ cô độc - là rơm rác hay bóng ma tùy thuộc vào việc Ngài làm vui trí óc ta hay ám ảnh những cơn sốt của ta.
Khi tôi rộng lượng: Ngài phình to với các thuộc tính; khi tôi chua chát: Ngài nặng trĩu bởi khoảng vắng mặt. Tôi đã trải nghiệm Ngài dưới mọi hình thức. Ngài không chịu đựng được tính tò mò lẫn thái độ soi xét: bí ẩn của Ngài, tầm vô tận của Ngài suy giảm; độ sáng mờ đi; uy danh giảm bớt. Ngài là một bộ trang phục đã cũ mà ta phải trút bỏ; làm sao có thể khoác lên mình một Thiên Chúa rách rưới? Cơn thoái hóa và phút hấp hối của Ngài kéo dài qua các thời đại; nhưng Ngài sẽ không sống lâu hơn chúng ta - Ngài đang già đi, và những hơi thở cuối cùng của Ngài sẽ đến trước chúng ta.
Một khi các thuộc tính của Ngài đã cạn kiệt, sẽ không ai còn năng lượng để rèn cho Ngài những thuộc tính mới. Con người, sau khi đã gán cho Ngài rồi từ bỏ chúng, sẽ đi vào hư không để nhập lại với phát minh cao quý nhất của mình: Đấng Tạo Hóa.
ĐỘNG VẬT SIÊU HÌNH
Giá mà chúng ta có thể loại bỏ tất cả những gì Bệnh Thần Kinh đã khắc sâu trong trí óc và con tim, tất cả những vết sẹo bệnh tật trĩu nặng cùng những bóng tối bất thuần đi kèm với nó! Những gì không nông nổi đều không sạch sẽ. Thiên Chúa: thành quả từ nỗi lo âu trong ruột gan chúng ta và tiếng ùng ục của các ý tưởng. Chỉ có khao khát Hư Không mới cứu chúng ta khỏi bài tập hủ hóa mang tên đức tin.
Thật trong trẻo biết bao Nghệ thuật của vẻ bề ngoài, nơi ta thờ ơ trước mọi mục đích và thảm họa! Mơ về Thiên Chúa, tìm kiếm Ngài, cầu xin hay chịu đựng Ngài - đó chỉ là chuyển động của một cơ thể rối loạn và một trí óc thất bại! Những thời đại nông nổi một cách cao quý - như Thời Kỳ Phục Hưng hay thế kỷ thứ mười tám - đã khinh bỉ tôn giáo, sa thải những trò đùa thô sơ của nó. Nhưng ôi chao! Có một nỗi u sầu bình dân tiềm ẩn trong ta, làm đen tối đi mọi nồng nhiệt và khái niệm. Vô ích khi ta mơ về một vũ trụ bằng ren; Thiên Chúa - sản phẩm từ những chiều sâu hoại tử của ta - đã xúc phạm giấc mơ đẹp đẽ ấy.
Chúng ta là những động vật siêu hình chính bởi tính hủ hóa mà ta chứa đựng trong mình. Lịch sử tư tưởng là đoàn diễu hành của những bước sa ngã; đời sống trí tuệ là cuộc duyệt binh của những cơn chóng mặt. Khi sức khỏe của ta suy giảm, vũ trụ chịu đựng điều đó và phải trượt theo đường cong đi xuống của sức sống ta.
Bàn đi bàn lại vô tận về "tại sao" và "làm thế nào"; việc truy tìm Nguyên Nhân - bất kỳ nguyên nhân nào - dưới cái cớ nhỏ nhất đều biểu thị trạng thái rối loạn chức năng, dẫn đến một "cơn mê loạn siêu hình": tuổi già của vực thẳm, đà sụp đổ của nỗi lo âu tột cùng, nét xấu xí cuối cùng của các bí ẩn.
NGUỒN GỐC CỦA NỖI U SẦU
Mọi niềm bất mãn sâu sắc đều mang bản chất tôn giáo: những thất bại của chúng ta bắt nguồn từ việc ta vô năng trong việc tưởng tượng và khao khát thiên đường, cũng như những bất an của ta đến từ tính mong manh trong mối quan hệ với cái tuyệt đối. "Tôi là một động vật tôn giáo không hoàn chỉnh, tôi chịu đựng mọi căn bệnh gấp đôi" - một ngạn ngữ về Sự Sa Ngã mà con người cứ lặp đi lặp lại để tự an ủi mình.
Thất bại trong việc đó, hắn kêu gọi đến đạo đức, quyết định làm theo những lời khuyên bảo mang tính giáo huấn dù chấp nhận rủi ro bị giễu cợt: "Hãy quyết tâm không u sầu nữa," đạo đức trả lời. Và con người nỗ lực bước vào vũ trụ của Điều Thiện, niềm An Lạc, và Hy Vọng. Nhưng những nỗ lực của hắn đều vô hiệu và đi ngược lại tự nhiên: nỗi u sầu gợi lại gốc rễ đà sụp đổ của chúng ta - nỗi u sầu chính là chất thơ của Tội Tông Đồ.
BÀI TẬP CỦA BẤT PHỤC TÙNG
Tôi hận biết bao, lạy Chúa, nét đê tiện trong các tác phẩm của Ngài và những bóng ma ngọt ngào đang dâng hương cho Ngài - những kẻ giống hệt Ngài! Vì hận Ngài, tôi đã trốn thoát khỏi những "nhà máy đường" trong Vương Quốc của Ngài, khỏi những lời tào lao của những con rối dưới tay Ngài. Ngài là bộ giảm chấn cho những ngọn lửa và cuộc nổi loạn của chúng tôi, là vòi chữa cháy cho những cơn sốt, là giám thị cho tuổi già của chúng tôi.
Ngay cả trước khi đóng khung Ngài vào một công thức, tôi đã chà đạp các bí mật của Ngài, khinh bỉ những trò xảo quyệt và mọi mưu mẹo tạo nên vẻ trang điểm của Ngài về Điều Không Thể Giải Thích. Ngài đã rộng lượng ban cho tôi mật đắng - thứ mà lòng thương hại của Ngài đã tha cho những nô lệ của Ngài. Vì không có phút nghỉ ngơi nào ngoại trừ dưới cái bóng của cõi hư vô nơi Ngài, kẻ thô kệch tìm thấy lối cứu rỗi bằng cách chỉ cần giao nộp mình cho Ngài hoặc những bản nhái của Ngài.
Tôi không biết ai đáng thương hơn: những kẻ hầu cận của Ngài hay chính tôi. Tất cả chúng tôi đều trực tiếp xuất thân từ trạng thái bất lực của Ngài: những mảnh vá chằm vá đốp, những hỗn hợp - những âm tiết vụng về của Ngài trong buổi Sáng Tạo.
Trong tất cả những gì đã được thử nghiệm ở bên này của hư không, có gì đáng thương hơn thế giới này, ngoại trừ ý niệm đã khai sinh ra nó? Bất cứ nơi nào có cái gì đó hít thở, ở đó có thêm một điểm yếu: không có nhịp đập nào mà không xác nhận nét bất lợi của việc tồn tại; thể xác làm tôi kinh hãi: những người đàn ông này, những người phụ nữ này, những thứ nội tạng rên siết bởi ân sủng của những cơn co thắt... Không còn mối liên hệ nào với hành tinh này nữa: mỗi khoảnh khắc chỉ là một lá phiếu bỏ vào hòm phiếu tuyệt vọng của tôi.
Có gì quan trọng đâu, liệu các tác phẩm của Ngài dừng lại hay tiếp tục! Những kẻ cấp dưới của Ngài không thể hoàn thành những gì Ngài đã mạo hiểm bắt đầu mà không có thiên tài. Từ trạng thái mù lòa mà Ngài dìm họ vào, họ rồi sẽ bước ra, nhưng liệu họ có đủ sức mạnh để trả thù, và Ngài có đủ sức mạnh để tự bảo vệ mình? Giống loài này đã gỉ sét, và Ngài thì còn gỉ sét hơn.
Quay về phía Kẻ Thù Của Ngài, tôi chờ đợi ngày hắn sẽ ăn trộm mặt trời của Ngài để treo nó vào một vũ trụ khác
